Russia and Venezuela have signed an agreement to promote the development of nuclear energy for civilian use.
The agreement was signed during a visit by Russian President Dmitry Medvedev to Venezuela's capital, Caracas, on the latest leg of his Latin American tour.
Under the accord, Russia would help Venezuela build a nuclear energy plant. Joint gas projects were also approved.
Military co-operation is also high on the agenda of Mr Medvedev's talks with Venezuelan President Hugo Chavez.
Russian and Venezuelan warships are scheduled to hold joint military exercises later this week.
The Russian vessels, including the flagship missile cruiser Peter the Great and two support vessels, appeared off La Guaira, near Caracas, early on Tuesday.
The destroyer Admiral Chabanenko docked while Venezuelan forces fired a 21-gun salute.
This is first Russian deployment of its kind in the Caribbean since the end of the Cold War.
New alignments
Russia is already a major arms supplier to Venezuela, with contracts worth some $4.4bn (£2.39bn).
Mr Medvedev's visit is part of a Latin American tour aimed at boosting both Russia's presence and trade ties in a region traditionally of strategic importance to the US.
BBC diplomatic correspondent Jonathan Marcus says the Russian president's aim is to show Washington, where President-elect Barack Obama is preparing for office, that if the US does things in Europe near Russia's borders which Moscow does not like, then Russia can pursue its own policies in a region long seen by Washington as its backyard.
Boosting bilateral trade between Russia and Latin America, which could reach $15bn (£9.9bn) this year, is another priority for the Russian president during his talks.
The Russian leader travelled to Venezuela from Brazil, where he and President Luiz Inacio Lula da Silva held talks on boosting trade and technical co-operation.
In Rio de Janeiro, the two presidents expressed their view that the "Bric" countries - Brazil, Russia, India and China - should hold their first summit in Russia in 2009.
Mr Medvedev's visit takes place just a few days after the Chinese president, Hu Jintao, toured several Latin American nations with a view to strengthening ties.
Thursday, November 27, 2008
Russia-Venezuela nuclear accord
Tuesday, November 4, 2008
Sẽ xây hai nhà máy điện hạt nhân
| |
![]() Việt Nam dự kiến nhà máy đầu tiên sẽ hoạt động năm 2020 |
Tại một hội thảo quốc tế về điện hạt nhân ở Hà Nội hôm 31.10, Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, TS. Vương Hữu Tấn, nói mỗi nhà máy có hai lò phản ứng và tổng công suất hai nhà máy khoảng 4000MW.
Dự kiến nếu được Quốc hội thông qua vào đầu năm sau, công việc xây dựng sẽ tiến hành vào 2012 và nhà máy đầu tiên đi vào hoạt động năm 2020.
Đây là một dự án gây tranh cãi, với ý kiến cho rằng không nên xây một lúc bốn lò phản ứng.
Chuẩn bị nhân lực
Nói với báo điện tử VietnamNet, Viện trưởng Vương Hữu Tấn cho biết Viện của ông cùng năm trường đại học đang đào tạo nhân lực ngành ứng dụng năng lượng nguyên tử và điện hạt nhân.
Dự kiến một Trung tâm Đào tạo Hạt nhân cũng sẽ được thành lập.
Giới chức nói qua kết quả thăm dò ý kiến người dân, "đại đa số" đều ủng hộ điện hạt nhân.
Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận 1 sẽ đặt ở huyện Ninh Phước, với tổng diện tích chiếm đất trên đất liền là 540ha, cộng thêm 310ha diện tích mặt nước ngoài biển.
Nhà máy số hai đặt ở huyện Ninh Hải, với diện tích 556ha trên đất liền.
Tập đoàn Điện lực VN (EVN) là chủ đầu tư Dự án Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận.
Những người ủng hộ đề án nói rằng trong bối cảnh thiếu điện hiện tại, sản xuất điện hạt nhân là nhu cầu hợp lý.
Trong một dấu hiệu cho thấy nhiều người trong Quốc hội có vẻ đồng thuận, ông Nguyễn Đăng Vang, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, nói Việt Nam đủ năng lực để vận hành nhà máy điện hạt nhân.
Ông Vang cũng nói với báo Tiền Phong: "Để quản lý vận hành một nhà máy như vậy, người ta chỉ cần có 11 người, chẳng lẽ đất nước ta không tìm được 11 người có kỷ luật cao, có đủ trí tuệ để làm việc đó."
Ông nhận xét chỉ cần 32 tháng để đào tạo cán bộ và rằng "từ nay đến 2020, còn 12 năm nữa, không lẽ chúng ta lại không đào tạo được mấy trăm người."
Trong khi đó, ông Lê Tuấn Phong - Phó Vụ trưởng Vụ Năng lượng (Bộ Công Thương) - bảo vệ chủ trương xây bốn lò hạt nhân cùng lúc.
Ông Phong cho rằng "chỉ xây một lò về quy mô kinh tế là không hợp lý".
Ý kiến khác
Tuy vậy, có những ý kiến không đồng tình kế hoạch xây bốn lò hạt nhân một lúc.
GS. Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt, nói công khai trên báo rằng chỉ nên xây một lò trước.
Ông Hiển cáo buộc có những người muốn xây nhiều chỉ để "bán được nhà máy, sau đó sẽ tính tiếp!"
Lý do GS. Hiển đưa ra là Việt Nam không có đủ "người am hiểu, làm chủ được công nghệ phức tạp, lại có hệ thống luật pháp nghiêm minh, biết quản lý theo công nghiệp hiện đại".
GS. Trần Đình Long, Phó Chủ tịch Hội Điện lực Việt Nam, cũng được dẫn lời cho rằng ít nhất 15 năm mới có thể đào tạo đủ nguồn nhân lực.
Sourcer: bbc.co.uk
Tuesday, October 28, 2008
Nuclear-powered passenger aircraft 'to transport millions' says expert
Call for big research programme to help aviation industry convert from fossil fuels to nuclear energy.
Nuclear-powered aircraft may sound like a concept from Thunderbirds, but they will be transporting millions of passengers around the world later this century, the leader of a Government-funded project to reduce environmental damage from aviation believes.
The consolation of sitting a few yards from a nuclear reactor will be non-stop flights from London to Australia or New Zealand, because the aircraft will no longer need to land to refuel. The flights will also produce no carbon emissions and therefore make no contribution to global warming.
Ian Poll, Professor of Aerospace Engineering at Cranfield university, and head of technology for the Government-funded Omega project, is calling for a big research programme to help the aviation industry convert from fossil fuels to nuclear energy.
In a lecture at the Royal Aeronautical Society tonight, Professor Poll will say that experiments conducted during the Cold War have already demonstrated that there are no insurmountable obstacles to developing a nuclear-powered aircraft.
The United States and the Soviet Union both began developing nuclear-powered bombers in the 1950s. The idea was that these bombers would remain airborne, within striking distance of their targets, for very long periods.
The United States tested a nuclear-powered jet engine on the ground and also carried out flight tests with a nuclear reactor on board a B-36 jet with a lead-lined cockpit over West Texas and Southern New Mexico. The reactor “ran hot” during the flights but the engines were powered by kerosene. The purpose of the flights was to prove that the crew could be safely shielded from the reactor.
Each flight was accompanied by an aircraft packed with marines ready to respond to a crash by parachuting down and securing the area.
The test programmes were abandoned in the early 1960s when the superpowers decided that intercontinental ballistic missiles made nuclear-powered planes redundant.
In an interview with The Times, Professor Poll said: “We need to be looking for a solution to aviation emissions which will allow flying to continue in perpetuity with zero impact on the environment.
“We need a design which is not kerosene-powered, and I think nuclear-powered aeroplanes are the answer beyond 2050. The idea was proved 50 years ago, but I accept it would take about 30 years to persuade the public of the need to fly on them.”
Professor Poll said the big challenge would be to demonstrate that passengers and crew could be safely shielded from the reactors.
“It's done on nuclear submarines and could be achieved on aircraft by locating the reactors with the engines out on the wings,” he said.
“The risk of reactors cracking open in a crash could be reduced by jettisoning them before impact and bringing them down with parachutes.”
He said that, in the worst-case scenario, if the armour plating around the reactor was pierced there would be a risk of radioactive contamination over a few square miles.
“If we want to continue to enjoy the benefits of air travel without hindrance from environmental concerns, we need to explore nuclear power. If aviation remains wedded to fossil fuels, it will run into serious trouble,” he said.
“Unfortunately, nuclear power has been demonised but it has the potential to be very beneficial to mankind.”
Professor Poll said an alternative to carrying nuclear reactors on aircraft would be to develop aircraft fuelled by hydrogen extracted from sea water by nuclear power stations.
However, he said that while hydrogen could be suitable for ground-based transport, its energy density was much lower than kerosene and it would be very difficult to design a long-range passenger aircraft capable of carrying enough of the fuel.
Rob Coppinger, technical editor of Flight International magazine, said it was more likely that nuclear reactors would be installed on unmanned air vehicles, used for reconnaissance or in combat, because there would be less need for heavy shielding than on a passenger plane.
Professor Poll will also present research tonight into measures to improve the efficiency over the next decade of short-haul aircraft such as the Boeing 737 and the Airbus A320. He will say that the replacements for these aircraft are likely to fly more slowly, adding about 10 minutes to a typical flight within Europe.
They are also likely to have open-rotor engines, which would use 20 per cent less fuel but could be much noisier than existing jet engines.
From The Times
Thursday, October 23, 2008
Chúng ta đủ khả năng quản lý, vận hành nhà máy điện hạt nhân
Theo ông Nguyễn Đăng Vang, Phó Chủ nhiệm Ủy ban KHCN&MT chúng ta có đủ năng lực để vận hành nhà máy điện hạt nhân và chỉ cần 32 tháng để đào tạo một đội ngũ về những vấn đề này.
Bên lề kỳ họp Quốc hội, Tiền phong đã trao đổi với Phó Chủ nhiệm Ủy ban KHCN&MT của Quốc hội Nguyễn Đăng Vang về khả năng phát triển điện hạt nhân ở nước ta, cũng như về ý kiến của một số nhà khoa học cho rằng kế hoạch xây một lúc 4 lò phản ứng hạt nhân là liều lĩnh.
Ông Vang nói: Để có lò phản ứng hạt nhân vào năm 2020 là vô cùng quan trọng. Hiện bây giờ, chúng ta có nhu cầu tăng trưởng năng lượng khoảng 17%/năm, nhưng ta mới chỉ sản xuất được 13-14%, tức là mỗi năm thiếu 3-4%. Do tích tụ nhiều năm nên thiếu nghiêm trọng.
Thưa ông, sử dụng điện hạt nhân sẽ có lợi gì?
Chúng ta đã thấy vấn đề cần sử dụng điện hạt nhân từ nhiều năm qua. Trên cơ sở xem xét, cân đối các dự án khác nhưng thấy không đủ, cho nên ta cần phải tập trung vào loại năng lượng.
Trong quá trình thẩm tra vấn đề điện hạt nhân, chúng tôi thấy đây là một giải pháp làm cho giá thành điện thấp, khoảng bằng 60-65% so với các giải pháp khác. Khi các nguồn thủy điện, nhiệt điện không cung cấp đủ năng lượng, giải pháp này không chỉ tốt về giá thành mà còn là giải pháp hạn chế tác động về môi trường.
Chúng tôi đã thăm một nhà máy điện nguyên tử của Nhật Bản với 5 lò phản ứng, nhưng cũng chỉ chiếm một diện tích nhỏ hơn 40 ha, xung quanh là một công viên 180ha nữa, như vậy là tổng cũng chỉ chiếm có 120ha. Trong khi đó, các dự án khác, nhất là thủy diện phải cần tới 200-300km2.
Cái lo ngại nhất là an toàn năng lượng, an ninh tại đó thì chúng ta phải sử dụng những lò phản ứng thế hệ mới nhất, cho đến bây giờ là thế hệ thứ 3 để cho an toàn cao nhất.
Một số nhà khoa học trong nước cho rằng trình độ của ta về điện hạt nhân mới ở mức độ “xóa mù chữ”, vậy chúng ta có đủ năng lực không?
Tôi nghĩ rằng, trong quá trình vận dụng khoa học công nghệ vào nước ta thường có hai vấn đề quan trọng: ứng dụng khoa học công nghệ đó và quản lý, vận hành chúng.
Để quản lý vận hành một nhà máy như vậy, người ta chỉ cần có 11 người, chẳng lẽ đất nước ta không tìm được 11 người có kỷ luật cao, có đủ trí tuệ để làm việc đó. Còn số công nhân vận hành nhà máy cũng chỉ mấy trăm người.
Chúng tôi cho rằng, chúng ta có đủ năng lực để làm việc đó và để đào tạo một đội ngũ vận hành những vấn đề này cần thời gian khoảng 32 tháng. Từ nay đến 2020, còn 12 năm nữa, không lẽ chúng ta lại không đào tạo được mấy trăm người(?!)
Thưa, hiện có ý kiến đưa ra là cần tới 15 năm để đào tạo một đội ngũ đáng để “chọn mặt gửi vàng”?
Chúng tôi đã nghiên cứu và rất nhiều tài liệu khác cho thấy không phải là như vậy.
Trên thế giới, các nước cũng rất dè chừng với điện hạt nhân, trong khi chúng ta chỉ mới bắt đầu nhưng lại đồng thời xây dựng tới 4 lò phản ứng hạt nhân, thưa ông?
Chương trình đưa ra là như vậy. Nhưng chúng tôi được biết là sẽ làm lần lượt, mỗi năm làm một lò chứ không phải là làm ngay lập tức cả 4 lò. Tuy nhiên đây dự án lớn, là công trình quan trọng quốc gia, bao giờ cũng thông qua Quốc hội quyết định. Hiện vấn đề này cũng đang trong giai đoạn hội thảo, lấy ý kiến, chưa trình ra Quốc hội.
Về sản lượng, các nước sử dụng điện hạt nhân thường dưới 15%, nhưng chúng ta lại đặt mục tiêu 15% ?
Một số nước phát triển tốt, sản lượng điện hạt nhân chiếm tới 80% như Pháp, hay Nhật trên 20%, Mỹ cũng có 20%. Chúng ta mới bắt đầu đi và năm 2020 mới bắt đầu vận hành lò đầu tiên (Theo như hội thảo, chứ chưa phải quyết định của Nhà nước hay Quốc hội) thì từ nay đến 2020 thế giới đã tiến đi rất xa, cho nên chúng ta dự kiến đến lúc đấy đạt tỷ lệ 15% là rất khó so với tổng nguồn năng lượng điện chúng ta sử dụng.
Cho dù chúng ta vận hành cả 4 lò cũng không đủ 15% (4.000MW). Chưa kể, nhu cầu sử dụng điện của ta đến năm 2020 sẽ tăng lên rất nhiều.
Nguyễn Tuấn
Via:Tienphong
Wednesday, October 22, 2008
Một lò phản ứng hạt nhân chưa đảm bảo về quy mô kinh tế
Đó là ý kiến của ông Lê Tuấn Phong - Phó Vụ trưởng Vụ Năng lượng (Bộ Công Thương) - trả lời việc các nhà khoa học cho rằng chỉ nên xây dựng một lò phản ứng hạt nhân thay vì xây 4 lò cùng lúc.
Thưa ông, trên cơ sở nào Bộ Công Thương đề xuất xây cùng lúc 4 lò phản ứng hạt nhân?
Rất tiếc, tôi không có điều kiện tham dự cuộc họp này. Tuy nhiên, theo tôi việc phát triển điện hạt nhân căn cứ vào dự báo nhu cầu, cân bằng năng lượng và đảm bảo an ninh năng lượng.
Về nhu cầu, phải tính toán, dự báo trên kịch bản tăng trưởng, phát triển kinh tế, trình Chính phủ, chứ đâu phải Bộ quyết định được.
Kinh tế càng phát triển tiêu thụ điện càng nhiều, dự kiến năm 2020 Việt Nam sẽ tiêu thụ từ 200 – 240 tỷ kWh, tùy thuộc tốc độ tăng trưởng GDP trung bình 8 – 8,5%/năm (kịch bản cơ sở) hoặc 10 – 11% năm (kịch bản cao).
Về cân bằng năng lượng, trong tương lai gần chúng ta sẽ phải nhập khẩu năng lượng, ví dụ như than. Việc nhập khẩu than gặp nhiều khó khăn. Nhập khẩu khối lượng lớn phải có hạm đội tàu, cảng lớn, than đốt xong lại thải ra lượng xỉ rất lớn, ảnh hưởng đến môi trường...
Về an ninh năng lượng thì Việt Nam phải đa dạng hóa các nguồn cung cấp năng lượng. Theo nghiên cứu, giá điện hạt nhân rẻ hơn than nhập khẩu. Còn về vấn đề tại sao xây 4 lò chứ không phải 1 lò thì tôi phải nói là chỉ xây một lò về quy mô kinh tế là không hợp lý.
Nếu làm ăn nhỏ lẻ thì không bao giờ có giá rẻ. Xây một tổ máy Nhà nước cũng phải xây dựng một bộ máy quản lý về tiêu chuẩn, giám sát, thanh tra, ra văn bản pháp luật liêu quan, rồi phải xây dựng trương trình đào tạo, nội địa hóa, nâng cao năng lực... mà xây nhiều lò cũng phải làm như vậy.
Hơn nữa, xác suất xảy ra sự cố ở một lò hay nhiều lò là như nhau. Vậy tại sao lại xây một chứ không phải nhiều lò? Chỉ làm một lò thì không nên làm. Trong Quy hoạch điện 6 đã có tiến độ cụ thể cho từng tổ máy chứ cũng không hoàn toàn xây dựng liền một lúc.
Ông đánh giá thế nào về tiềm lực của Việt Nam hiện nay trong vận hành và quản lý điện hạt nhân, đặc biệt là vấn đề nhân lực?
Trong chương trình phát triển năng lượng hạt nhân đã có chương trình đào tạo nhân lực điện hạt nhân, đã trình Chính phủ cách đây 2 – 3 năm. Giai đoạn nào cần bao nhiêu nhân lực, loại nào đã được tính toán rồi. Hiện nay chương trình này đang được triển khai.
Một số nước như Nhật, Hàn Quốc đã nhận đào tạo các đợt ngắn hạn và đã đào tạo được nhiều đợt rồi. Đào tạo ngắn hạn là cho các cán bộ đang làm việc trong ngành điện. Họ đã có kiến thức về ngành này nên học quy trình vận hành rất nhanh. Nhà máy nhiệt điện và nhà máy điện hạt nhân khác nhau mỗi cái lò. Nhà máy nhiệt điện thì lò đốt bằng than, dầu, khí còn nhà máy điện nguyên tử là lò phản ứng.
Giai đoạn nào cần gì thì đào tạo để đáp ứng. Chẳng hạn hiện nay đang cần cán bộ quản lý dự án, cán bộ xây dựng văn bản pháp lý thì phải cử cán bộ trong ngành điện đi học. Còn muốn đào tạo chuyên gia để vận hành nhà máy thì phải cử sinh viên đi. Lớp trẻ đã ra trường hiện đang đi làm cho các dự án. Chỉ còn lớp sinh viên. Sau khi được đào tạo sẽ quy về tiếp tục làm dự án. Ai giỏi thì học tiếp làm chuyên gia.
Khi nào chọn được công nghệ nào cho nhà máy điện hạt nhân của ta thì đưa sinh viên đi đào tạo vận hành công nghệ ấy. Đào tạo đến khi thành thục mới cho vào vận hành. Có sát hạch đầy đủ mới được làm.
Các nhà khoa học cho rằng, nguy cơ thiếu điện trầm trọng năm 2020 là không có cơ sở và hoàn toàn có thể bù đắp phần năng lượng thiếu hụt bằng các nguồn năng lượng tái tạo cộng với chính sách tiết kiệm. Do đó, không thể nói thiếu điện trầm trọng để tạo áp lực xây dựng cùng lúc 4 lò phản ứng hạt nhân. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?
Tôi ủng hộ phát triển năng lượng tái tạo. Sử dụng năng lượng tái tạo sạch nhưng giá điện rất cao. Nếu phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam, cần xem xét khả năng kinh tế. Việc lựa chọn điện hạt nhân phải dựa trên tính toán tổng thể các vấn đề kinh tế xã hội.
Giới khoa học cũng cho rằng, chỉ nên xây trước một lò phản ứng cơ hội để có thể hoàn thiện những mặt yếu kém và thay đổi về công nghệ nếu có những bất lợi trong quá trình vận hành?
Khi đấu thầu quốc tế đã phải chọn công nghệ tốt nhất, cao nhất. Các nước phát triển họ cũng liên tục cải tiến công nghệ. Nếu chờ thì chờ đến bao giờ làm cái thứ hai? Bao giờ có công nghệ cao hơn nữa?
Cảm ơn ông.
| Tại sao đã gần 10 năm kể từ khi Bộ Công Thương được Chính phủ giao xây dựng báo cáo tiền khả thi dự án nhà máy điện hạt nhân tại Việt Nam, Bộ không thành lập hội đồng khoa học để lấy ý kiến rộng rãi các nhà khoa học? Trong quá trình thực hiện, đã có rất nhiều hội thảo được tổ chức. Các chuyên gia về năng lượng hạt nhân thuộc Viện Năng lượng Nguyên tử cũng là những người cùng xây dựng báo cáo này. Bộ Công nghiệp trước đây đã làm, nguyên tắc là phải lấy ý kiến rộng rãi các bên liên quan trước khi trình Chính phủ, các chuyên gia về điện nguyên tử ở Viện Năng lượng Nguyên tử thì đã tham gia từ lâu rồi. Nếu Chính phủ thời gian tới yêu cầu phải tiếp tục lấy ý kiến, Bộ Kế hoạch Đầu tư sẽ là đơn vị đứng ra chủ trì và làm việc với Hội đồng thẩm định cấp Nhà nước. |
Mỹ Hằng thực hiện
Via: Tienphong
Điện hạt nhân: Tại sao phải vội?
![]() |
| Một nhà máy điện hạt nhân ở Nhật Bản |
Trước đây ít lâu, cái thời khắc lịch sử đó được dự kiến vào năm 2017. Công chúng còn chưa hết phân vân tại sao ta xây nhà máy ĐHN vào lúc mà mấy nước văn minh như Đức, Thụy Điển... lại phải lo đưa chúng xuống nghĩa địa, thì mới đây, từ cuộc trình diễn do Diễn đàn Công nghiệp nguyên tử Nhật Bản tổ chức tại Việt Nam, cái thời khắc đó lại còn được bắn vọt lên năm 2012. Thế nghĩa là còn chưa đầy chín năm nữa!
Vị trưởng đoàn Nhật tại cuộc trình diễn nói trên cảnh báo: “Việt Nam cần phát triển ĐHN để nâng cao mức sống của dân chúng. Đang từ một nước xuất khẩu năng lượng, sắp đến các bạn sẽ phải nhập khẩu nếu không sớm xây dựng ĐHN”.
Đây đúng là kinh nghiệm của nước Nhật, vốn từ lâu đã cạn kiệt các nguồn nhiên liệu nên phải nhập khẩu than dầu từ khắp nơi. Trong hoàn cảnh đó còn gì tuyệt diệu bằng ĐHN, một giải pháp sống còn duy nhất chẳng những bảo đảm an ninh năng lượng cho nền kinh tế khổng lồ của Nhật mà còn tránh cho Trái đất nóng lên do hiệu ứng nhà kính.
Từ kinh nghiệm của một nước công nghiệp hàng đầu
![]() |
| Cộng hòa liên bang Đức - một trong những nước chủ yếu sử dụng điện hạt nhân - đã công bố kế hoạch chấm dứt sản xuất loại năng lượng này trong hai thập kỷ tới |
Trước hết là tai nạn hỏa hoạn do chất tải nhiệt natri ở lò phản ứng Monju xảy ra năm 1995 làm toàn bộ phương hướng lò nơtrôn nhanh hết sức tốn kém của Nhật bị lao đao. Lò nơtrôn nhanh có khả năng vừa cung cấp điện năng vừa sản sinh ra nhiều plutonium hơn là lượng uranium đã cháy, bởi thế nó là giải pháp tuyệt diệu trong chiến lược an ninh năng lượng lâu dài của Nhật. Biết thế, nhưng vừa qua Tòa án tối cao Nhật vẫn phán quyết không cho lò Monju hoạt động trở lại (The Japan Times, 28-1-2003).
Sau vụ Monju là tai nạn xảy ra ở nhà máy xử lý nhiên liệu Tokaimura năm 1999 do những sai sót hết sức ngớ ngẩn đã làm chết hai kỹ thuật viên, 600 người bị chiếu xạ, 320.000 người dân địa phương được yêu cầu không ra khỏi nhà và sáu kỹ thuật viên bị phạt tù với tội danh vi phạm luật an toàn hạt nhân.
Trước những sự kiện đó một số người Nhật vẫn có thể chặc lưỡi: đi máy bay, tàu hỏa còn chết khối người, huống hồ là ĐHN. Nhưng đến khi vụ bê bối bị phát giác hồi tháng tám năm ngoái ở Tokyo Electric Power Co. (TEPCO), tập đoàn sản xuất điện lớn nhất của Nhật, thì niềm tin của dân vào ĐHN mới suy sụp thảm hại.
Từ cuối thập kỷ 1980 TEPCO đã phát hiện vết nứt ở những mối hàn xung yếu nhất trong hệ thống cung cấp nước áp lực cho vùng hoạt của một số lò phản ứng. Nhưng họ đã cố tình giấu nhẹm, chẳng những không chịu xử lý mà cũng không báo cáo trung thực lên các cấp thẩm quyền. Trong các báo cáo thường kỳ lên cấp trên họ đã làm hồ sơ giả, bịa đặt số liệu kiểm tra phù hợp với qui chế an toàn. Khi có đoàn thanh tra định kỳ đến, họ lén điều chỉnh các van áp lực để đạt được những thông số hợp lý.
![]() |
| Cơ cấu sản xuất năng lượng của thế giới |
Chạy theo lợi nhuận, bất chấp nguyên tắc (bất cứ một trục trặc nhỏ nào trong hệ thống tải nhiệt của nhà máy ĐHN đều phải được xử lý và khắc phục kịp thời), TEPCO đã làm mất lòng tin của công chúng. Hậu quả là tất cả các lò phản ứng của TEPCO đều phải ngừng hoạt động để kiểm tra, chờ cấp giấy phép mới, kể cả những lò đang hoạt động bình thường cũng bị vạ lây. TEPCO phải cho chạy lại các nhà máy nhiệt điện cũ và mua điện từ các hãng khác để bù vào chỗ thiếu hụt. Thiệt hại lên đến nhiều tỉ đôla (The Japan Times, May 21, 2003).
Thế mà người ta cứ quảng cáo rằng ĐHN an toàn và rẻ lắm.
Những chuyện trên đây xảy ra tại một cường quốc công nghiệp với hệ thống pháp luật nghiêm ngặt càng làm cho công chúng khó tin vào các quảng cáo đó. Nhất là trong bối cảnh phải đối phó với nạn khủng bố toàn cầu mà ĐHN là những mục tiêu lý tưởng. Quảng cáo ĐHN là cách đi vay niềm tin của công chúng.
Nhưng vay thì phải trả. TEPCO chẳng những không trả được mà còn làm cho công chúng nghi ngờ rằng họ liên tục bị lừa dối trong nhiều năm trời. Theo kết quả thăm dò dư luận của Asahi Shimbun ngày 9-10-2002, sau vụ bê bối ở TEPCO, số dân Nhật sợ ĐHN đã tăng vọt lên đến 86%. Tệ hại hơn là họ không tin ngay cả lời giải thích của chính phủ trung ương cho rằng các vết nứt trong lò phản ứng của TEPCO không có gì đáng ngại.
Trông người mà nghĩ đến ta. Cứ theo thông tin từ buổi trình diễn của Diễn đàn Công nghiệp nguyên tử Nhật Bản nói trên thì câu chuyện ĐHN ở VN xem như đã an bài, mặc dù bao nhiêu phân tích xác đáng cho rằng ta không nên quá vội vàng. Thậm chí nhiều chuyên gia nước ngoài còn hết sức ngạc nhiên khi nghe tin VN sắp xây dựng nhà máy ĐHN. Tuy chưa thấy có công bố chính thức nào của Nhà nước, song bàn thêm liệu có ích gì? Lời khuyên của người xưa “đo đủ ba lần rồi hãy cắt” xem ra chỉ là một hi vọng mong manh.
Đến thực trạng của VN
Những dòng viết tiếp dưới đây chẳng qua chỉ là phản ứng tự nhiên trước lập luận kỳ quặc của vị khách nước ngoài được tung lên báo chí sau vụ trình diễn của Diễn đàn Công nghiệp nguyên tử Nhật Bản. Lời cảnh báo của vị khách gồm hai vế: 1) theo đà tăng trưởng hiện nay, sắp đến VN phải nhập khẩu năng lượng; 2) để thoát khỏi nguy cơ này VN cần xây dựng ngay nhà máy ĐHN.
Trước hết cứ tạm chấp nhận vế thứ nhất là đúng và nhập khẩu năng lượng đang là nguy cơ đe dọa chúng ta. Ta sẽ thấy ngay hai chuyện kỳ quặc. Thứ nhất, khi hối thúc VN làm ĐHN để tránh nhập khẩu năng lượng thì chính vị khách đó đã bày cho chúng ta cách nhập khẩu năng lượng tệ hại nhất. VN khác với Nhật. Có bao nhiêu bộ phận trong nhà máy ĐHN với hơn bốn tỉ đôla đó là made in Vietnam? Đến bao giờ VN mới tự túc được nhiên liệu, mà có tự túc được thì nhiên liệu cũng chỉ là một thành phần rất nhỏ trong toàn bộ chi phí cho nhà máy ĐHN. Thậm chí đến chuyên gia kỹ thuật, chắc chắn ta cũng phải nhập nốt.
Thứ hai, nguy cơ phải nhập khẩu năng lượng vào năm nọ tháng kia không thể xem là yếu tố quyết định thời điểm phải xuất hiện ĐHN. Đối với một nước như VN, các số liệu cung cầu năng lượng chỉ nên xem như thông tin có tính chất tham khảo trong việc quyết định thời điểm xây dựng nhà máy ĐHN. Yếu tố quyết định là cơ sở hạ tầng về an toàn bao gồm hệ thống luật pháp hạt nhân, đội ngũ chuyên gia và văn hóa quản lý công nghiệp.
Đội ngũ chuyên gia ĐHN đủ khả năng xét duyệt các phương án thiết kế, xây lắp và làm chủ trong vận hành, xử lý các tình huống sự cố (chứ chưa nói đến khâu chế tạo công nghệ) hầu như chúng ta chưa có. Và triển vọng trong thời gian tới cũng không mấy sáng sủa. Làm sao có được chuyên gia về ĐHN đang là bài toán đầy thách thức lại đòi hỏi nhiều thời gian. Hệ thống pháp lý hạt nhân của chúng ta rất yêu kém, thậm chí bị coi thường. Minh chứng là lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt sắp kỷ niệm 20 năm mà vẫn chưa có giấy phép vận hành. Chất phóng xạ do lò sản xuất được sử dụng trong các bệnh viện cũng chưa có giấy phép. Chẳng ai cấm, nhưng cũng chưa có ai ký.
Nguy cơ thật sự ở đâu?
Không ai có lỗi về khoảng cách khá lớn giữa trình độ phát triển hiện nay của chúng ta với các nước đang có ĐHN. Đó là chuyện lịch sử mà những tiến bộ vượt bậc trong mấy năm qua vẫn chưa thu ngắn lại được. Nhưng chúng ta sẽ rất có lỗi nếu chỉ lo quảng cáo cho ĐHN mà không tự nhận biết mình là ai, không nỗ lực bắt tay ngay vào việc đào tạo đội ngũ chuyên gia và xây dựng hệ thống pháp lý.
Chúng ta lại cần có thời gian để thử thách cái hệ thống mà chúng ta sắp dựng nên. Chính trình độ yếu kém về tri thức công nghệ, quản lý công nghiệp và hệ thống pháp lý sẽ là mảnh đất lý tưởng để tham nhũng, hối lộ và nạn làm dối, làm ẩu hoành hành. Mà một khi nhốt chung ba quái vật ấy lại với ĐHN thì đó mới thật sự là mối đe dọa cho đất nước. Chính vì thế mà người dân Philippines thà vứt đi mấy tỉ đôla đóng thuế của họ xuống biển chứ không chịu cho nhà máy ĐHN đã xây xong đến 90% của họ hoạt động. Chia tay với ĐHN, Philippines quyết tâm theo đuổi chính sách lấy năng lượng tái tạo làm nền tảng, đặc biệt sẽ phấn đấu trở thành nước sản xuất địa nhiệt lớn nhất thế giới.
Trở lại bàn tiếp lập luận của vị khách trong vế thứ nhất. Lại cứ tạm chấp nhận là VN sắp phải nhập khẩu năng lượng như vị khách tiên đoán. Thì đã làm sao? Bao nhiêu nước, trong đó có Nhật, đều phải nhập khẩu năng lượng mà vẫn giàu có văn minh. Tài nguyên dồi dào như Trung Quốc mà chỉ riêng ba quí đầu năm 2003 phải nhập khẩu đến hơn 50 tỉ đôla về năng lượng (South China Morning Post, 10-12-2003). Nhưng ai dám đoan chắc với dân chúng rằng sau mười năm nữa VN sẽ phải nhập khẩu năng lượng? Mà lại để cho người nước ngoài nói thay ta rồi tung lên báo chí?
Nhiều người tin rằng tiềm năng về than, dầu mỏ, khí đốt của ta cộng với các giải pháp tiết kiệm năng lượng vẫn còn đủ để chưa cần đến ĐHN ít nhất là trước năm 2030. Lúc đó công nghệ ĐHN trên thế giới đã bước lên một quĩ đạo hoàn toàn mới với các lò phản ứng có đặc điểm an toàn nội tại, rất ít phụ thuộc vào sai sót của nhân viên vận hành. Nhập cuộc vào lúc ấy đâu có muộn. Mà người dân lại khỏi phải mua nỗi lo âu bằng cái giá quá đắt. “Dục tốc bất đạt”, lời khuyên của người xưa thật là chí lý.
PHẠM DUY HIỂN
Source: tuoitre





